Lượt xem: 106

Phản bác luận điệu xuyên tạc “phân biệt đối xử người Khmer bản địa”

Lợi dụng sơ hở, thiếu sót của chính quyền địa phương trong giải quyết các vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn về đất đai, vấn đề hỗ trợ COVID-19 và các vụ việc liên quan đến dân tộc, tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động bên ngoài tăng cường thực hiện các hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng triệt để lợi dụng các sự kiện “Ngày Liên hiệp quốc ký bản tuyên ngôn về quyền dân tộc bản địa” (13/9); “Ngày nhân quyền thế giới” (10/12) thường xuyên tổ chức các buổi “hội luận” để lôi kéo, tập hợp số người có nhận thức, tư tưởng lệch lạc về vấn đề dân tộc; thu thập thông tin tình hình trong nước, lợi dụng sơ hở, thiếu sót của chính quyền địa phương trong giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai và các vụ việc liên quan đến dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc, đưa tin sai lệch, vu cáo chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người Khmer bản địa. 

    Như vụ việc hồi tháng 2/2024, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên đưa ra xét xử Danh Minh Quang, ngụ xã Đại Tâm huyện Mỹ Xuyên về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ”, theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự, họ đưa tin sai lệch, tuyên truyền vu cáo rằng đây là hành động sách nhiễu, phân biệt đối xử, đàn áp người “Khmer bản địa” của chính quyền Sóc Trăng; kêu gọi chính quyền tôn trọng quyền của người Khmer bản địa và quyền tự do tôn giáo.

    Thực tế theo cáo trạng, từ năm 2020 đến khi bị bắt, Danh Minh Quang thường xuyên sử dụng mạng xã hội để biên soạn, đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết, video và phát trực tiếp nội dung xuyên tạc, đưa thông tin sai sự thật về phòng, chống COVID-19, chính sách an sinh xã hội của địa phương; xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và làm mất ổn định tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Hành vi của đối tượng Quang diễn ra trong thời gian dài, mang tính hệ thống, vi phạm Luật An ninh mạng năm 2018, đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn ngoan cố, không sửa đổi. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt Danh Minh Quang 3 năm 6 tháng tù về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.


Nông thôn vùng đồng bào Khmer nhiều khởi sắc.

 

    Có thể khẳng định, từ khi ra đời và xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, vấn đề “đoàn kết dân tộc, bình đẳng giữa các dân tộc” luôn được Đảng ta xác định là vấn đề quan trọng, mang tầm chiến lược, trở thành quan điểm xuyên suốt và nhất quán. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ra đi tìm đường cứu nước đã thể hiện rõ tư tưởng về đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc qua mục tiêu mà Người đặt ra: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi". Năm 1930, khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, trong Cương lĩnh đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Lực lượng tham gia cuộc cách mạng giải phóng dân tộc là quần chúng nhân dân trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; là các dân tộc, các giai cấp, các tầng lớp, các tôn giáo và các nhân sĩ yêu nước... đoàn kết trong mặt trận dân tộc thống nhất thành một lực lượng mạnh mẽ để đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc. Người nói: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau". Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam được thể hiện rõ trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 do Hồ Chí Minh đứng đầu soạn thảo, trong đó Điều 1 ghi: "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” và Điều 8 ghi: "Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung". Cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục xác định:“Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số” là một trong những giải pháp trọng tâm để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới.

    Trải qua các giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và gần 35 năm đổi mới, khối đại đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường. Trong đó, “đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước”. Điều đó cho thấy, luận điệu xuyên tạc chính quyền Việt Nam “phân biệt đối xử người Khmer bản địa” là bịa đặt, vu cáo. Bởi vì:

    Đồng bào dân tộc Khmer luôn được đối xử bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Thực tế cho thấy trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển vùng đồng bào dân tộc Khmer. Trong đó, Chỉ thị số 68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer triển khai thực hiện đạt được những kết quả quan trọng đã làm thay đổi toàn diện vùng đồng bào dân tộc Khmer. Kế thừa những thành quả đạt được, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII ban hành Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/1/2018 về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới, đề ra 7 nhiệm vụ trọng tâm tập trung thực hiện. Trong đó, Ban Bí thư yêu cầu các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới; cân đối các nguồn lực để ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer.

    Sóc Trăng là tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống, chiếm khoảng 30% dân số toàn tỉnh. Tiếp thu Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư khoá XII, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành Công văn số 753-CV/TU, ngày 29/5/2018 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW. Bên cạnh đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Kết luận số 02-KL/TU, ngày 30/12/2020 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU của Tỉnh uỷ khoá XIII về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Nghị quyết 04-NQ/TU, ngày 09/7/2021 về lãnh đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã đầu tư xây dựng 399 công trình và thực hiện duy tu, bảo dưỡng 207 công trình, tập trung phát triển hạ tầng giao thông nông thôn với tổng nguồn vốn trên 430 tỷ đồng. Trong giai đoạn này, tỉnh còn triển khai thực hiện các chính sách, các chương trình, dự án hỗ trợ hộ nghèo ở các xã, ấp, khóm đặc biệt khó khăn có đông đồng bào Khmer sinh sống; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán, vay vốn chuyển đổi nghề; hỗ trợ 3.496 căn nhà cho hộ nghèo khó khăn về nhà ở. Riêng trong năm 2023, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số bố trí cho tỉnh gần 492 tỷ đồng, đến cuối năm 2023 giải ngân đạt 85% kế hoạch vốn được giao; tập trung hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào Khmer, phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyển thống và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe… Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được bố trí 103 tỷ đồng, giải ngân đạt 89% kế hoạch vốn được giao, góp phần đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xây dựng được nhiều mô hình chuyển đổi sản xuất, thoát nghèo bền vững trong đồng bào Khmer. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được bố trí gần 196 tỷ đồng, giải ngân đạt 95% kế hoạch vốn được giao.


Nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia đã hỗ trợ hàng ngàn hộ đồng bào Khmer xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, tăng thu nhập.

 

    Với sự quan tâm và tăng cường công tác của các cấp ủy đảng, chính quyền trong triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, tình hình kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hằng năm, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 2% - 3%, trong đó giảm tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Khmer hàng năm từ 3% - 4%; đến cuối năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm 2%, trong đó giảm tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Khmer là 3%. Đến nay, các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer đều có trường trung học cơ sở, trạm y tế và đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã, phường, thị trấn và 100% khóm, ấp có điện lưới quốc gia; 100% xã, phường, thị trấn được phủ sóng phát thanh - truyền hình, bảo đảm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người dân; 100% xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế. Tính đến cuối năm 2023, toàn tỉnh có 70 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; trong đó có 20 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 2 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu (trong đó, có 31 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt chuẩn nông thôn mới, 05 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 01 xã là vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nông thôn mới kiểu mẫu); 3 đơn vị cấp huyện, thị xã đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; gồm huyện Mỹ Xuyên, thị xã Ngã Năm, thị xã Vĩnh Châu.

    Các chủ trương, chính sách về phát triển giáo dục, đào tạo tiếp tục được quan tâm đầu tư. Nhờ đó, quy mô học sinh và mạng lưới cơ sở giáo dục vùng đồng bào Khmer ngày càng được mở rộng. Giai đoạn 2018-2022, tỉnh đã đầu tư nâng cấp 8 trường phổ thông dân tộc nội trú với tổng số vốn trên 85 tỷ đồng; tỉnh đã hỗ trợ 73.213 học sinh bán trú người dân tộc thiểu số với tổng số tiền trên 40.595 triệu đồng; hỗ trợ cho 12.293 đối tượng thuộc chính sách nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trên 289.000 triệu đồng; hỗ trợ 13.618 học sinh và 177 đối tượng dự bị đại học đều được học bổng hằng tháng là 80% mức lương tối thiểu và được hưởng đầy đủ các chế độ theo quy định. Năm học 2023 - 2024, toàn tỉnh có 10 trường phổ thông dân tộc nội trú gồm 102 lớp, với 3.396 học sinh dân tộc Khmer ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tổng số học sinh dân tộc Khmer được huy động đến lớp từ mầm non đến trung học phổ thông là 86.231 học sinh, chiếm tỷ 31,63% tổng số học sinh toàn tỉnh. Cũng trong năm học này, công tác dạy - học tiếng Khmer được triển khai đầy đủ ở tất cả 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh; toàn tỉnh có 131 trường có dạy tiếng Khmer, với 1.707 lớp từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông với tổng số 44.984 học sinh được học tiếng Khmer. Từ đó, giúp cho đồng bào Khmer giữ gìn chữ viết, bản sắc văn hóa, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực trong đồng bào Khmer có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Bản sắc văn hóa dân tộc Khmer được bảo tồn, phát huy. Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW khoá VIII về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tỉnh đã triển khai thực hiện đề tài “Phong tục - Lễ hội của đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2019 – 2020”; đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” tại tỉnh Sóc Trăng giai đoạn I năm 2019 - 2025; Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá phi vật thể về nghệ thuật diễn xướng dân gian có “sân khấu Dù kê”, “sân khấu Rô băm”, “múa Rom Vong”, “Nhạc Ngũ âm”; Dự án “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng năm 2023. Tổ chức phục dựng nhiều lễ hội dân gian truyền thống dịp Lễ hội “Oóc Om Bóc”; như lễ Cúng Trăng, “Lôi Prôtip” (Thả đèn nước), phục dựng ghe “Cà Hâu”, “Sene Đôlta”, “lễ dâng y”, “lễ Cầu an”. Toàn tỉnh có 10 chùa Phật giáo Nam tông Khmer được công nhận di tích lịch sử văn hoá; gồm Chùa Khleang, phường 6, thành phố Sóc Trăng; Chùa Mahatúp, Phường 3, thành phố Sóc Trăng; Chùa Cà Săng, phường 2, thị xã Vĩnh Châu; Chùa Trà Tim Chắc, phường 10, thành phố Sóc Trăng; Chùa Ô Chum, xã Vĩnh Quới, thị xã Ngã Năm; Chùa Prếk Om Pu, xã Thạnh Thới An, huyện Trần Đề; Chùa Sro Lôn, xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên; Chùa Pôthi Phđôk, xã Kế thành, huyện Kế Sách; Chùa Tà On, xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú; Chùa Buôl Pres Phék, xã Phú Tân, huyện Châu Thành (trong đó, có 2 chùa là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, 8 chùa là di tích lịch sử cấp tỉnh); 5 di sản văn hoá phi vật thể quốc gia được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận, gồm Nghệ thuật sân khấu Dù Kê, Nghệ thuật sân khấu Rô Băm, Nghệ thuật trình diễn dân gian Nhạc Ngũ Âm, Nghệ thuật trình diễn dân gian Múa Rom Vong và lễ hội truyền thống Lễ hội Đua ghe Ngo của người Khmer huyện Thạnh Trị, huyện Châu Thành, huyện Mỹ Xuyên, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

    Tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Khmer được tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động. Chính quyền các cấp trong tỉnh luôn quan tâm, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo đúng pháp luật; giải quyết kịp thời những phát sinh mới trong tôn giáo; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ cho các tổ chức, chức sắc, chức việc tôn giáo trên địa bàn tỉnh. Hiện trên địa bàn tỉnh có 130 cơ sở thờ tự của đồng bào dân tộc Khmer, trong đó có 92 chùa và 38 Salatel, 1.701 vị sư sãi đang tu học, có 14 Hòa thượng, 20 Thượng tọa, 66 Đại đức, 399 tỳ khưu và 1.104 vị sa di; 1.326 thành viên ban quản trị các chùa. Hiện nay, 92/92 chùa Phật giáo Nam tông Khmer có lò hoả táng, góp phần đáp ứng phong tục, tập quán của đồng bào Khmer. Năm 2019, tỉnh đã phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình Nhà hỏa táng điện tại các chùa Phật giáo Nam tông Khmer (theo Quyết định số 1402/QĐ-UBND), thực hiện tại Chùa Som Rông, Phường 5, thành phố Sóc Trăng và Chùa Bâng Tone Sa, xã Viên An, huyện Trần Đề, với tổng mức đầu tư là 100 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tỉnh luôn luôn quan tâm và tạo điều kiện Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tỉnh phát huy truyền thống tốt đẹp của Phật giáo Nam tông Khmer trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy tinh thần đoàn kết hoà hợp trong nội bộ, đoàn kết tôn giáo, để hoàn thành các hoạt động Phật sự ngày càng phát triển và ổn định.

    Đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị. Thời gian qua, Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành các nghị quyết, kết luận để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số; các cấp uỷ quan tâm, lãnh đạo thực hiện tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người Khmer. Tính đến tháng 6/2023, toàn tỉnh có 48.155 đảng viên, trong đó, có 7.865 đảng viên là người Khmer, chiếm 16,33%, có 1 đồng chí là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; người dân tộc Khmer tham gia cấp uỷ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 là 340 đồng chí. Cán bộ, công chức, viên chức toàn tỉnh có 26.108 người; trong đó, có 5.610 cán bộ, công chức, viên chức là người Khmer (chiếm tỷ lệ 21,48%). Có 2 đại biểu Quốc hội khoá XV là người dân tộc Khmer; 507 đại biểu người Khmer tham gia Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ người dân tộc Khmer được các cấp uỷ, địa phương quan tâm thực hiện thường xuyên. Theo đó, tỷ lệ đảng viên người dân tộc Khmer so với tổng số đảng viên trong từng đảng bộ huyện, thị xã, thành phố ngày càng tăng; tỷ lệ cán bộ là người dân tộc Khmer tham gia ban chấp hành, ban thường vụ cấp uỷ và giữ các chức danh chủ chốt ở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer ngày càng cao.


Việc dạy và học chữ Khmer giúp cho đồng bào Khmer giữ gìn chữ viết, bản sắc văn hóa.

 

    Từ những căn cứ thực tiễn trên cho thấy, luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, phân biệt đối xử, đàn áp người Khmer bản địa là hoàn toàn bịa đặt, phi lý. Dưới ánh sáng soi rọi của tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên suốt và nhất quán quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đã xác định: “các dân tộc đều bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”; “đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước”. Thực tế không thể phủ nhận là đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Khmer đã có nhiều chuyển biến tích cực. Diện mạo nông thôn vùng đồng bào dân tộc Khmer không ngừng khởi sắc, nhất là ở vùng đặc biệt khó khăn.

    Đối với Sóc Trăng, là tỉnh có 30% dân số là đồng bào dân tộc Khmer, thực tiễn quá trình phát triển tỉnh nhà thời gian qua đã chứng minh rõ: Các cấp ủy đảng, chính quyền luôn quan tâm thực hiện tốt chủ trương, chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc, tạo điều kiện để vùng có đông đồng bào Khmer phát triển như các địa phương khác trong tỉnh; đồng bào dân tộc Khmer luôn được đối xử bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Nhận thức rõ điều đó để mỗi chúng ta, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tầng lớp, giai cấp kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai sự thật hòng phá hoại khối đại đoàn kết 3 dân tộc Kinh – Hoa – Khmer trên đất Sóc Trăng; không tham gia các hội, nhóm, tổ chức của các đối tượng xấu; nâng cao cảnh giác, không nghe theo lời cấu kết, xúi giục tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta; tích cực tham gia phong trào quần chúng bảo vệ an ninh chính trị - trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, giữ vững tình đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng quê hương Sóc Trăng ngày thêm giàu đẹp./.

Trung Dũng



Phim tư liệu
  • Phát biểu của đồng chí Lâm Tấn Hòa
  • Ngày hội văn hóa thể thao du lịch đông bào Khmer Nam bộ và Lễ hội Óoc-Om-Bóc Đua ghe Ngo 2022
  • Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ Hai - năm 2022
1 2 3 4 5  ... 


No title... No title... No title...
Thống kê truy cập
  • Đang online: 99
  • Hôm nay: 6377
  • Trong tuần: 87,974
  • Tất cả: 12,419,223